CHÀO MỪNG CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM WEBSITE DÒNG TỘC TRẦN LÊ ĐẠI TÔN CHÀO MỪNG CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM WEBSITE DÒNG TỘC TRẦN LÊ ĐẠI TÔN

DÒNG HỌ TRẦN LÊ ĐẠI TÔN

XÃ ĐỨC THỊNH - TỈNH HÀ TĨNH

Con rể cụ Lê Dụ

quảng cáo

Trong xã hội phong kiến Việt Nam, người phụ nữ phần lớn không được học hành qua trường lớp, nhưng họ được giáo dục từ gia đình, dòng tộc theo quan niệm đạo đức Nho giáo, họ thấm nhuần sâu sắc tư tưởng “tam tòng, tứ đức” để thực hiện tốt thiên chức làm vợ và làm mẹ của mình.

Những người con gái làng Văn Lâm cũng vậy, trong xã hội phong kiến, các cụ không được học hành qua trường lớp mà chỉ được học, được giáo dục qua gia đình và qua dòng họ. Tuy vậy nhưng các cụ lại rất thông minh, sống mẫu mực, đức hạnh, hiền thục, tảo tần và cần kiệm làm ăn. Đặc biệt, các cụ chăm lo, quán xuyến việc nhà để các cụ ông chuyên tâm dùi mài kinh sử, đồng thời nuôi dạy và giáo dục con cái nề nếp gia phong. Chồng và con cháu của các cụ đã góp phần làm đẹp đẽ, huy hoàng thêm cho làng Văn Lâm chúng ta.

Con rể làng Văn Lâm đỗ đạt làm quan

Theo gia phả của các dòng họ, thời phong kiến, làng Văn Lâm có 01 người con rể đỗ đạt làm quan, đó là cụ Lê Dụ (Trần Lê Dụ), người Trung Lễ. Cụ là con rể cụ Nguyễn Duy Thạc (đời thứ 4 họ Nguyễn Duy).

Cụ Nguyễn Duy Thạc lấy cụ bà là con gái đầu của Thuỷ tổ họ Nguyễn Bá (Nguyễn Cẩn Ngôn) sinh được 04 người con trai và 01 người con gái. Người con gái lấy cụ Lê Dụ (họ Trần Lê đại tôn ở xã Trung Lễ). Gia phả họ Trần Lê đại tôn Trung Lễ ghi: “Cụ Lê Dụ có 05 người vợ, người vợ thứ 04 tên thường gọi là Cô Hến – người làng Văn Lâm, sinh được 02 người con gái”.

Sơ lược tiểu sử cụ Lê Dụ:

Cụ Lê Dụ sinh năm Tân Mùi (1811 – Gia Long thứ 10), thời thơ ấu mẹ mất sớm, sống với người mẹ kế họ Đặng. Nhà nghèo phải làm lụng vất vả, thức khuya dậy sớm, chăn trâu cắt cỏ, xay lúa giã gạo nhưng cụ rất chăm học.

Năm Canh Tý 1840 (Minh Mạng thứ 21) thi Hương trường Nghệ An đậu Cử nhân được bổ nhiệm làm viên chức triều đình tại kinh đô Huế.

Năm 1844 (Thiệu Trị thứ 4) được phong Tri huyện Kim Động (tỉnh Hưng Yên). Năm 1847 (Thiệu Trị thứ 7) được bổ làm Tri Phủ Hòa An (tỉnh Cao Bằng) tiếp sau đó được bổ làm bố Chánh sứ Thanh Hóa, Tuyên Quang, Án sát sử Quảng Ngãi, Biện lý Bộ Công.

Cụ thường nói “Thái căn khả thực, thiên hạ hà sự bất năng vi” (Rau củ mà ăn được thì việc gì trong thiên hạ mà chẳng làm được).

Cụ được vua khen là “Thanh liêm và Tiết tháo”. Năm 1858 (Mậu Ngọ – Tự Đức thứ 11) được điều vào quân thứ Đà Nẵng tỉnh Quảng Nam cùng với Quân vụ Đại thần Nguyễn Tri Phương chống trả các cuộc tấn công xâm lược của quân Pháp vào Bán đảo Sơn Trà.

Năm Tân Dậu (1861 – Tự Đức thứ 14) làm Phó chủ khảo trường thi Hà Nội, Trường thi Nam Định. Năm sau 1862 được cử làm Bố chánh tỉnh Sơn Tây, nhân có “Giặc Cừ” ở Bắc Ninh nổi lên cấu kết với bọn cướp biển cùng nhau tàn phá dân trong vùng. Vua Tự Đức giao lệnh cho Cụ kéo quân từ Sơn Tây về hợp lực với quân ông Vũ Tảo dẹp yên được quân giặc.

Năm Đinh Mão (1867 – Tự Đức thứ 20) cử Chánh chủ khảo trường thi Bình Định. Xong khoa thi Cụ được điều về triều làm Hữu tham tri Bộ Lại.

Năm 1869 (Kỷ Tỵ, Tự Đức thứ 22) được cử Tuần phủ Nam Ngãi, Hàm Nhị phẩm, sau được điều về làm Tham tri bộ Lễ. Năm 1870 (Canh Ngọ, Tự Đức thứ 23) được cử làm Chánh chủ khảo trường thi Thừa Thiên.

Năm 1874 (Giáp Tuất, Tự Đức thứ 27) hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh có cuộc khởi nghĩa Mai Tú Tấn. Triều đình sai Hồ Oai một võ quan rất tàn ác đem quân ra đàn áp, bắt cầm tù, giết hại nhiều người dân vô tội. Hay tin, không thể để mặc quê hương chìm trong máu lửa, cụ Lê Dụ cùng các quan đồng chầu hai tỉnh Nghệ Tĩnh tâu vua xin thi hành chính sách chiêu an thay cho đàn áp bằng vũ lực. Y lời tấu vua Tự Đức cử cụ Lê Dụ làm Đặc phái Khâm sai hộ đốc An Tĩnh (quyền Tổng đốc hai tỉnh Nghệ Tĩnh) để giải quyết nạn đói và giặc giã nổi lên ở vùng Nghệ Tĩnh.

Tới nơi Cụ liền hạ lệnh rút quân lính đóng tại các đồn về tỉnh, thả những người bị giam cầm oan do bị tình nghi liên can đến cuộc khởi nghĩa. Nhờ đó sau 3 tháng thực hiện chính sách chiêu an tình hình các nơi được tạm yên. Nhưng một đêm, tỉnh thành Hà Tĩnh bỗng bị cướp phá cụ Lê Dụ bị triệu về kinh và bị giáng chức từ Tham Tri (hàm Nhị Phẩm – Hồng Lô tự khanh) xuống làm Biện lý Bộ Hình (hàm Tứ Phẩm) tại kinh đô Huế.

Về kinh được ít lâu thì Cụ bị cảm nặng, sang ngày hôm sau thì mất là ngày 25/1/1875 tức ngày 18/12 Giáp Tuất, thọ 64 tuổi.

Sau khi Cụ mất, Vua Tự Đức biết giáng chức Cụ là oan bèn xuống chiếu phục hồi chức tước “ Tả thị lang bộ Hình”.

Hai người con gái của cụ Hến

Cụ Lê Dụ và người vợ thứ 4 (cô Hến người làng Văn Lâm) sinh được 02 người con gái. Người con gái đầu (thường gọi là Bà Gái) lấy ông Nguyễn Dưỡng Giá (người làng Ngọc Lâm, xã Lâm Trung Thuỷ, Đức Thọ, Hà Tĩnh).

Sách Đức Thọ Đất và Người (trang 434, 435) viết: Nguyễn Dưỡng Giá (cuối thế kỉ XIX): Nhà thơ, thường gọi Tú Xanh, không rõ năm sinh và năm mất. Ông học giỏi, thi đỗ Tú Tài năm 1885, là con rể Tuần phủ Lê Dụ ở Trung Lễ. Khi vua Hàm Nghi ra Sơn phòng Hương Khê xuống chiếu Cần Vương, ông cùng với nhiều sĩ phu Hà Tĩnh lên yết kiến và được phong chức Thương biện Quân vụ kiêm Ngự tiền Văn hỗ giá (cùng với Ngự tiền Võ hỗ giá là Tăng Bạt Hổ). Năm 1888, vua Hàm Nghi bị bắt, ông về quê rồi đi tu ở một ngôi chùa vắng gần làng Yên Phúc, nay là xã Yên Hồ, huyện Đức Thọ. Năm 1890, Phan Đình Phùng từ Bắc về, phát triển phong trào Cần Vương, cho người đi tìm Nguyễn Dưỡng Giá, nhưng ông không rời chùa. Khi Phan Đình Phùng mất, ông làm bài thơ Nôm Điếu Phan Đình nguyên. Ngoài ra, ông còn để lại một số câu đối và các bài thơ như Điếu Lê Ninh, Điếu Lê Trực,…

Người con gái thứ 2 (thường gọi là Bà Hét) lấy ông Nguyễn Chanh (người làng Gia Hanh, Can Lộc) có con trai là Nguyễn Hét (cùng con nhà bác là Nguyễn Trang) tham gia phong trào Duy Tân của Phan Bội Châu, hi sinh ở Yên Phú, bên kia sông Chợ Cầu hồi tháng 3 năm 1921.

(Ảnh – Bản tấu về trận lụt ở Quảng Nam của cụ Lê Dụ năm 1870)

Người viết: Phan Duy Nghĩa – Người làng Văn Lâm nay là Xã Lâm Trung Thủy – Huyện Đức Thọ – Tỉnh Hà Tĩnh