DÒNG HỌ TRẦN LÊ ĐẠI TÔN
XÃ ĐỨC THỊNH - TỈNH HÀ TĨNH
Bài này viết về làng (xã) Trung Lễ xưa, danh xưng Trung Lễ đã nhiều lần thay đổi; buổi đầu di dân lập ấp có thể tại khu vực nhà thờ họ Lê và xung quanh, mỗi nơi một vài chục gia đình quy tụ. Làng có trước năm 1407 khi tướng giặc Trương Phụ (nhà Minh) cai trị; chúng dựng đồn trại nhiều nơi trong đó có khu vực từ trường Lê Văn Thiêm đến QL8A, tới nay hơn 600 năm… Qua thời gian dài và biến cố thời cuộc; nhân dân đã đúc kết làm nên giá trị truyền thống, bản sắc văn hóa làng.
Khi Pháp đến cai trị chia ra 2 làng Lạc Thiện, Quy Nhân (đường trước nhà thờ họ Lê kéo dài phía bắc là Quy Nhân, nam Lạc Thiện) để chia rẽ. Trước năm 1948 làng Trung Lễ, Thượng Ích, Đồng Khê, Tường Vân nhập lại gọi là xã Cổ Ngu (xã cổ yên vui), tổng Văn Lâm, huyện La Sơn, phủ Đức Thọ (nói lái là dân Kẹ Ngù- cụ Nghè; cụ nghè Lê Văn Kỷ là anh trai của Lê Văn Thiêm; dinh thự xưa, nay là đất nhà ông Hợp, Thận, Bằng, Xoài thôn Trung Khánh). Tháng 1/ 1948 Trung Lễ nhập với Đức Lâm, Đức Thủy gọi là Ngu Lâm (luôn yên vui); tháng 7/1954 tách ra Trung Lễ thành Đức Trung, tháng 10/ 1974 Đức Trung đổi lại Trung Lễ, tháng 01/2020 nhập 3 xã đặt tên Lâm Trung Thủy (huyện Đức Thọ). Ngày 01/ 7/ 2025 cả nước xóa bỏ cấp quận huyện và thành phố trực thuộc tỉnh; sáp nhập lại các tỉnh, phường xã trong đó nhập 8 xã: Trung Lễ với Đức Lâm, Đức Thủy, Đức Thanh, Đức Thịnh, Đức Bình, Đức An, Đức Dũng đặt tên mới là xã Đức Thịnh.
Trung Lễ là xã đồng bằng thuần nông, 100% không Tôn giáo nhưng theo tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên… Trước năm 1955 hơn 90% nhà tranh, vách đất hoặc nứa; nền nhà, sân ngõ, đường làng đều bằng đất nắng bụi mù, mưa lầy lội; tre xanh bao quanh vườn nhà, làng xã; vườn nhà trồng vài hay nhiều cây cau trầu, 100% đi chân đất, tối thắp đèn dầu, ngủ không màn; phụ nữ gần 100% ăn trầu cau, răng nhuộm đen, tóc vấn đầu, mặc yếm, mấn (váy); đàn ông 30% hút thuốc lào, ăn trầu cau; 70% dân biết đọc viết; gần 30% hộ dân nuôi tằm dệt lụa, làm thuê và nghề phụ… Ao hồ nhiều, cây cổ thụ, bụi rậm mọc hoang gò bãi… Thỉnh thoảng nai, hoẵng, gà lôi từ đại ngàn về đồng. Năm 1980 tôm cua cá, rái cá (con tấy), cá mái, cá rô thia (cá cờ nhiều màu), cà cuống, niệng niệng, tít nác (giống con tằm), bồng em (giống con dế)… đầy hồ ruộng; bìm bịp, chồn quanh vườn; diều hâu, quạ đen lượn lờ; diệc, sếu… bay ngang trời râm ran gọi đàn.
Có câu “Đất vua, chùa làng, phong cảnh bụt”, mỗi cảnh vật đều có những câu chuyện của riêng mình; xã có nhiều miếu thờ và phía đông có đền Thánh, chợ chùa (trùa), có ngôi cổ tự. Thôn Trung Nam (cả 2 bên sông) nơi đây là căn cứ địa của nghĩa quân cụ Lê Ninh (1857- 1887, 30 tuổi) người anh hùng xướng nghĩa Cần Vương giúp vua Hàm Nghi đánh Pháp. Thôn có long mạch bảo hộ chúng sinh, bởi thế đã dựng lên một số kiến trúc tâm linh chạm khắc nghệ thuật tinh xảo mang bản sắc tâm hồn Việt: có điếm canh, giếng đình, đình làng (tại đây cụ Lê Ninh đã tế cờ dấy nghĩa, sau bị Pháp đốt cháy rồi làm nền tế, năm 1945 dựng hội quán đến năm 1955 vẫn còn, đình làng rộng gần 4.000 m2 từ bờ rào nhà ông Sơn đến gần hết chợ chiều). Thôn có đền Phát Lát (đền Quy Nhân sau chợ), đền Cửa Diệc (Lạc Thiện) ngoài đồng cách chợ 300 m (rộng khoảng 5.000 m2); thôn có dinh thự của cụ Lê Khanh quan Bố chánh triều Nguyễn (trung tâm dinh thự trên đất nhà Lê Hiền bây giờ nhưng dài rộng hơn); Lê Khanh lấy vợ đầu sinh ra Lê Ninh và vợ 2 sinh cố nội Lê Hiền, o ruột Lê Hiền là vợ 3 Lê Thước (nguồn gốc là người họ Trần, nhà ở nay làm nhà thờ tại thôn Trung Đông).
Đầu năm 1885 cụ Lê Ninh chiêu mộ hào kiệt, binh sĩ; thành lập “Đại đồn Trung Lễ” trên 3 xóm (xóm Ràn, xóm Trửa, xóm Trại) có xưởng rèn đúc súng đạn, bãi luyện tập và trường bắn. Giữa năm 1885 Cụ đem quân đánh thành Hà Tĩnh chiến thắng vang dội; cuối năm 1885 giặc Pháp cùng tay sai tà đạo từ thành phố Vinh (nay là phường Trường Vinh và phường Thành Vinh) tiến đánh vào căn cứ địa của cụ Lê Ninh và phóng hỏa đốt cả làng… Năm 1886 quân cụ Ninh đánh đồn Dương Liễu ở xã Nam Trung- Nam Đàn (nay là xã Thiên Nhẫn, Nghệ An)… rồi rút lui về Hương Khê; vì sơn lam chướng khí nên cụ bị ốm nặng, đồng đội bí mật đưa Cụ về quê vợ Võ Thị Đoàn ở làng Phù Long, xã Hưng Long (nay là xã Hưng Nguyên Nam- Nghệ An) và mất; năm 1918 dân Trung Lễ đưa Cụ về an táng tại quê nhà (đầu tiên ở nghĩa trang, sau đưa về khuôn viên bảo tàng xã)… Giai đoạn năm 1930 đến 1936 Pháp quay lại chiếm đóng xây “Đồn Lạc Thiện” và đốt cháy nhà dân lần 2. Đồn Lạc Thiện xây trên diện tích gần 40 ngàn m2 nay là khu vực trạm y tế xã và vài nhà dân quanh đó, 4 góc dựng 4 chòi canh; có 2 dãy nhà gạch ngói to cao (mỗi nhà dài 50 m chia 4 phòng, mỗi phòng có 1 lò sưởi ống khói cao, tường dày 50 cm, cửa gỗ trong kính ngoài chớp) và vài nhà nhỏ hơn, 2 lô cốt vừa nổi và chìm, toàn bộ vật liệu chở từ Pháp sang, quanh đồn nhiều cây long não cổ thụ che nắng, thanh lọc không khí; thôn quê trù phú bình yên bỗng trở thành làng kháng chiến xơ xác tiêu điều, một số chiến sĩ cộng sản đưa về đồn giam cầm tra tấn… Thời kháng chiến chống Pháp nhà dân thôn Trung Nam (cả 2 bên sông) bị cháy 3 lần, lần 3 vào tháng 6/ 1954 máy bay Pháp ném bom napan.
Năm 1858 Pháp xâm lược Việt Nam lần thứ nhất; tháng 3/1945 Nhật đảo chính, Pháp rút khỏi VN lần một; đồn trở thành “trường Lạc Thiện” cấp 1 và 2 con em xã Can Lộc, Trường Lưu, Hương Sơn về đây học; ngày 5/ 8/ 1964 Đế quốc Mỹ lần đầu đưa máy bay ném bom bắn phá miền Bắc trong đó có xã ta, Trung Lễ là nơi có trạm giao liên bộ đội hành quân vào Nam và thôn Trung Nam là nơi trú ẩn nhiều đoàn xe quân đội vào tiền tuyến; mỗi ngày đêm bị nhiều đợt bom đạn cày xới nhiều nhà tan nát, người chết; ác liệt nhất 2 năm 1967, 1968 và đợt bom cuối cùng tháng 12/ 1972…
Năm 1960 Nhà nước ban hành Nghị quyết 3 “xóa bỏ tàn tích, tư tưởng Phong kiến…” đến năm 1963 xã ta phá bỏ gần hết, còn lại bom Mỹ phá và để giữa trời mưa nắng hoang tàn đổ nát. Trường Lạc Thiện không trúng bom đạn nhưng ngói rơi vỡ nhiều, các lớp đi sơ tán rồi học trường mới… Mấy dãy nhà Pháp hư hỏng, cây cổ thụ bị chặt phá, năm 2015 san ủi xây trạm y tế xã. Đồn bốt Lạc Thiện năm xưa không còn, diện tích thu hẹp lại, chứng tích một thời Thực dân Pháp cai trị nay thành dĩ vãng… Văn hóa làng trong ký ức của một số người gợi lên nhiều cung bậc cảm xúc; đã tự khôi phục 6 miếu thờ nhưng không đẹp, không sầm uất và u tịch như trước.
Sơ lược về truyền thống xã Trung Lễ: Thời phong kiến, Pháp thuộc và chống Mỹ cứu nước xã Trung Lễ được ca ngợi là “xã Cách mạng, xã Khoa bảng tiến sĩ”; xã có nhiều nhiều người tham gia lực lượng công an, quân đội; có nhiều liệt sĩ, thương bệnh binh, nhiều anh hùng và mẹ VNAH, nhiều Lão thành Cách mạng và Cán bộ tiền khởi nghĩa. Giai đoạn chống Mỹ xã được Nhà nước tặng “xã anh hùng”, thời kỳ đổi mới là “xã Văn hóa”, tháng 11/ 2023 tỉnh tặng bằng khen xã “đạt chuẩn nông thôn mới”. Thời hội nhập và phát triển xã có một số người là chủ tập đoàn tư nhân lớn, doanh nhân thành đạt, nông dân lao động giỏi… Nhiều năm có học sinh điểm thi thủ khoa, Nhân tài Đất Việt, huy chương vàng quốc tế (các cháu ở Hà Nội) và nhiều giải thưởng danh giá khác…
Trong đó người họ Trần Lê có cụ Lê Dụ (bố của Lê Thước) phẩm hàm Tham tri bộ lại triều đình Huế; tiêu biểu gia đình cụ Thước có 3 Giáo sư và Phó GS: Lê Thước, Lê Triệu Phong, Lê Xuân Diệm và anh hùng LLVTND- liệt sĩ Lê Thiệu Huy (Tham mưu trưởng liên quân Việt- Lào, hy sinh lúc 26 tuổi chưa vợ con); gia đình cụ Nguyện có 2 đại tá và Trần Văn Giao- anh hùng lao động; Trần Lê Đông, Tiến sĩ khoa học, Tổng giám đốc dầu khí Việt Xô, anh hùng LĐ thời kỳ đổi mới…
Không những người họ Trần mà họ Lê và các họ khác trong xã cũng có nhiều người đức cao vọng trọng, chí lớn và nhiệt tình cách mạng, đó là: cụ Lê Khanh quan Bố chánh triều Nguyến đã xuất ra 12 hũ vàng và 12 chum bạc châu báu cho con trai của mình thành lập đội quân đánh Pháp; cụ Lê Ninh (con của Lê Khanh), thủ lĩnh phong trào, người anh hùng xướng nghĩa Cần Vương đã cùng với người làng, anh em nội thân phò tá như: Lê Diên, Lê Trực, Lê Võ, Lê Phác, Lê Hoạt, Lê Phất… nhiều người hy sinh lẫm liệt, Lê Nghệ con trai của cụ Ninh cũng bị Pháp bắt rồi chết trong tù năm 1916 lúc 33 tuổi; có Lê Văn Vỹ cử nhân làm quan án sát; Lê Văn Tự giải nguyên làm quan Quản đạo (chức tam phẩm) đều có công với cách mạng; có giải nguyên Lê Văn Huân trí thức Cách mạng, bí thư huyện ủy đầu tiên huyện Đức Thọ và là ủy viên của Tân Việt Cách mạng đảng, bị Pháp bắt tra tấn dã man nhưng rất kiên cường bất khuất, ông tuyệt thực rồi dùng quản bút sắt tự mổ bụng chết trong tù năm 1929 thọ 53 tuổi; Lê Văn Luyện quan tri huyện (dinh thự ở thôn Trung Khánh nay trên đất nhà ông Thủy, Cao, Nhiên, Nguyệt, Bính, Xuân) có công lớn khởi xướng đào sông qua thôn Trung Nam năm 1934 đem nước về tưới tiêu cho ruộng đồng nhiều xã; giáo sư Lê Văn Thiêm, chủ tịch đầu tiên Hội toán học VN và nhiều giải nguyên, cụ nghè, giáo sư, tiến sĩ khác…
“Hậu sinh khả úy” tuổi trẻ xã Trung Lễ luôn rèn đức, luyện tài, không ngại thử thách gian khổ để tiến kịp cùng thời đại tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo; phấn đấu phát triển bản thân, gia đình hạnh phúc, góp phần làm cho quê hương đổi mới “dân giàu, nước mạnh; xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Viết lại tại phường Trường Vinh- tỉnh Nghệ An, ngày 05 tháng 9 năm 2025. Trần Điện Năng